

Mai Vũ Duy
Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Để phát triển cảnh quan cây xanh cân đối, đồng đều, đúng và có chất lượng trên địa bàn đô thị sông nước TP. Cần Thơ. Bài báo nêu những quy định, yêu cầu, quy cách và các lưu ý kèm theo hình ảnh minh họa trong thiết kế cảnh quan, công viên và lựa chọn cây xanh trồng ở đô thị; giúp các chủ thể quan tâm có thể trở thành một bức tranh tổng thể, chi tiết khi phát triển việc trồng cây xanh trên địa bàn trung tâm thành phố. Tuy nhiên, trong phạm vi chế độ của bài viết này, nội dung mang tính thông thường và mẹo để bạn đọc tài liệu tham khảo.
Từ khóa: Cảnh quan; cây xanh; cây xanh đô thị.
Nguồn:
Mai Vũ Duy. 2025. Một số lưu ý trong thiết kế và đơn vị cây xanh tạo cảnh quan tại đô thị sông nước Cần Thơ. Tạp chí Xây dựng. Số 6, 260-262.
Mai Vũ Duy*, Nguyễn Huy**, Nguyễn Huy Long**, Nguyễn Thế Văn***, Lê Bửu Thạch***, Lưu Hồng Trường****, Trần Quang Điền****, Nguyễn Đình Phúc***
*Đại học Cần Thơ; **Công ty TNHH Thương mại dịch vụ xây dựng An Hưng Phát; ***Viện Công nghệ Tiên tiến, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; ****Viện Sinh Thái Miền Nam
Email: ndphuc167@gmail.com
Tóm tắt
Hiện nay, việc đánh giá tình trạng cây xanh chủ yếu dựa vào quan sát ngoại quan. Mặc dù nhanh, ít tốn kém nhưng phương pháp này phụthuộc lớn vào khả năng quan sát và kinh nghiệm của người thực hiện và không thể đưa ra kết luận có cơ sở về tình trạng gỗ bên trong. Trong khi đó, trên thế giới, các công nghệ hiện đại (công nghệ đánh giá rủi ro cây xanh) như sóng âm (Sonic Tomography), Electrical Resistivity Tomography (ERT), Ground Penetrating Radar (GPR) và trí tuệ nhân tạo (AI) đã chứng minh khả năng hiệu quả trong việc phát hiện sớm các khiếm khuyết và rủi ro ở cây xanh (kiểm tra không phá hủy). Bước đầu ở Việt Nam, ứng dụng công nghệ sóng âm đã cho thấy các kết quả khả quan và có triển vọng ứng dụng rộng rãi. Các kết quả thực nghiệm sẽ giúp các đơn vị quản lý cây xanh nhận biết sớm các rủi ro về cây xanh và có các biện pháp phù hợp và kịp thời. Tham luận này trình bày thực trạng sức khỏe cây xanh đô thị, phân tích cơ sở khoa học của các phương pháp cổ điển và hiện đại, so sánh với kinh nghiệm quốc tế, thảo luận về thách thức và cơ hội cho Việt Nam, đồng thời đề xuất định hướng quản lý cây xanh đô thị theo hướng an toàn, bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.
Từ khóa: Quản lý cây xanh đô thị; sức khỏe cây xanh đô thị;công nghệ đánh giá rủi ro cây xanh; kiểm tra không phá hủy; công nghệ sóng âm.
Nguồn:
Mai Vũ Duy, Nguyễn Huy, Nguyễn Huy Long, Nguyễn Thế Văn, Lê Bửu Thạch, Lưu Hồng Trường, Trần Quang Điền, Nguyễn Đình Phúc. 2026. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến trong đánh giá sức khỏe và mức độ an toàn cây xanh để quản lý cây xanh đô thị tại Việt Nam. Tạp chí Xây dựng. Số 3, 100-103.
Mai Vũ Duy*, Nguyễn Huy, Nguyễn Huy Long
Tóm tắt
Nghiên cứu phân tích con đường tiếp nhận Phật giáo vào thiết kế vườn Nhật Bản và ảnh hưởng của Thiền tông – Tịnh Độ tông đến ba phong cách chính: Tsukiyama (vườn hồ đồi), Karesansui (vườn khô Thiền), Chaniwa (vườn trà). Qua phân tích lịch sử và biểu tượng không gian, nghiên cứu chỉ ra sự thực hành của hai dòng Phật giáo trong sạch lý tổ chức vườn Nhật, từ hình ảnh Tây Phương Cực Lạc hướng ngoại đến thiên hướng nội. Kết quả nghiên cứu không chỉ đưa ra cái nhìn đầy đủ hơn về vườn Nhật Bản truyền thống mà còn đề xuất nguyên tắc ứng dụng lý lý Thiền- Tịnh độ vào kiến trúc cảnh quan Việt Nam, góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho kiến trúc cảnh quan bản địa.
Từ khóa: vườn Nhật Bản, Thiền tông, Tịnh Độ tông, Tsukiyama, Karesansui, Chaniwa, kiến trúc cảnh quan Việt Nam
Nguồn xem thêm: Mai Vũ Duy, Nguyễn Huy, Nguyễn Huy Long (2026). Tư tưởng Thiền Tông và Tịnh Độ trong thiết kế vườn Nhật Bản.Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. Số 261, 83-87. https://vietnamarchi.vn/tap-chi-kien-truc-viet-nam-so-261-4486.html
Nhan Ngọc Ngân* và Phạm Phước Nhẫn
Trường Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Silic ngày nay được biết đến như là một nguyên tố dinh dưỡng có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là trong sự chịu đựng và kháng lại các yếu tố bất lợi sinh học và phi sinh học. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hiệu quả của silic lên sinh trưởng, năng suất và bệnh thán thư trên ớt chỉ thiên với 2 nhân tố là hợp chất silic (CaSiO3; MgSiO3) và nồng độ phun (0; 100; 200 mg/L) được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy chiều cao cây, chỉ số diệp lục tố của lá, khối lượng tươi và khối lượng khô đều tăng đáng kể khi được xử lý hợp chất silic so với đối chứng. Trong đó xử lý MgSiO3 cho chỉ số diệp lục tố cao hơn so với CaSiO3. Khối lượng khô của trái khi phun CaSiO3 cao hơn so với phun MgSiO3. Hàm lượng Capsaicin qua 2 lần thu hoạch cao nhất ở nghiệm thức xử lý 200 mg/L là 300,9 μg/KLK. Năng suất khi phun MgSiO3200 mg/L đạt cao nhất 13,3 tấn/ha. Các nghiệm thức có xử lý hợp chất silic có tỷ lệ bệnh thán thư thấp hơn so với đối chứng. CaSiO3 cho hiệu quả kháng bệnh tốt hơn, với tỷ lệ bệnh giảm 29,4% trước thu hoạch và 34,6% sau thu hoạch.
Từ khóa: Ớt chỉ thiên, capsaicin, năng suất, bệnh thán thư, calicum silicate, magiesium silicate.
Nguồn:
Nhan Ngọc Ngân, Phạm Phước Nhẫn. 2025. Ảnh hưởng của Calcium Silicate và Magnesium Silicate lên sự sinh trưởng, năng suất và bệnh thán thư trên ớt chỉ thiên. Tạp chí khoa học Trường Đại học Bạc Liêu. Số 8(6), 20-29.
Pham THI PHUONG THAO1*, Le THANH TOAN2, Le THI HOANG YEN1, Le THI MONG CAM3
1 Department of Biochemistry and Plant Physiology, College of Agriculture, Can Tho University, Vietnam
2 Department of Plant Protection, College of Agriculture, Can Tho University, Vietnam
3 Can Tho University, Vietnam
*Corresponding author: ptpthao@ctu.edu.vn
Abstract
Chrysanthemum varieties are commonly grown and consumed in Vietnam, especially on some special occasions. In the Mekong Delta, some Pico chrysanthemum varieties are popular because of their colorful petals and long-lasting durability, suitable for indoor decoration and miniature landscapes. Many studies have shown the role of the plant growth regulator cytokinin in increasing the number of flowers and prolonging the blooming time of some ornamental flower varieties, but there have been no specific studies on Pico chrysanthemums. The study was conducted to determine the appropriate dosage of benzyladenine (BA) supplement for the growth and flower quality of purple-pink Pico (Chrysanthemum sp.). The experiment was arranged in completely randomized design with five factors including 0.5 ppm, 10 ppm, 15 ppm and 20 ppm BA supplementation levels, in 10 replications with one plant per pot for each replication. The chemical solutions were applied three times at an interval of 10 days from 25 days after planting (DAP). The plants underwent three rounds of pinching at 5, 20 and 35 DAP. The results showed that the growth regulator BA had an impact on the growth and development of purple-pink Pico. The addition of 15 ppm and 20 ppm BA helped improve growth, increased plant weight, chlorophyll, diameter and number of flower buds. Regarding flower quality, the treatments supplemented with 15 ppm and 20 ppm BA resulted in the highest number of flowers at 159.8 flowers and 146.4 flowers, respectively; flower longevity lasted 29.9 days and 30.4 days, respectively. In summary, supplementing BA at dosages of 15 ppm and 20 ppm yielded good results on growth and prolonged the lifespan of small-leaved purple-pink Pico chrysanthemum.
Key words: Benzyladenine, flower quality, purple-pink Pico chrysanthemum, growth.
Nguồn:
Pham Thi Phuong Thao, Le Thanh Toan, Le Thi Hoang Yen, . 2025. EFFECT OF BENZYLADENINE (BA) ON GROWTH AND FLOWER QUALITY OF PURPLE - PINK PICO (CHRYSANTHEMUM SP.). XVI International Scientific Agriculture Symposium - Agrosym 2025. . 141-147.
https://agrosym.ues.rs.ba/article/showpdf/BOOK_OF_PROCEEDINGS_2025_FINAL.pdf
Nguyễn Văn Ây 1 , Mai Vũ Duy 1 , Phạm Ý Nhi 1 , Trần Ngọc Quý 2 ,
1 Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, Việt Nam
2 Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm, Đại học Cần Thơ, Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin, NAA và IBA lên khả năng nhân chồi và tạo rễ in vitro của cây Trầu bà Hạc Cam (Philodendron billietiae) được thực hiện nhằm tìm ra nồng độ Kinetin, NAA và IBA thích hợp cho việc nhân giống cây Trầu bà Hạc Cam trong môi trường cơ bản MS. Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm Công nghệ mô và tế bào thuộc Trường Nông Nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, với 3 thí nghiệm gồm: (1) Ảnh hưởng của nồng độ Kinetin và NAA đến khả năng tạo chồi in vitro cây Trầu bà Hạc Cam; (2) Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng tạo rễ in vitro của Trầu bà Hạc Cam; và (3) Khảo sát khả năng sống của cây Trầu bà Hạc Cam in vitro trong điều kiện thuần dưỡng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (i) Trong giai đoạn nhân chồi, môi trường nuôi cấy MS bổ sung Kinetin 2 mg/L và NAA 0,1 mg/L cho hiệu quả nhân chồi cây Trầu bà Hạc Cam tốt nhất ở thời điểm 10 TSKC (3,61 chồi/mẫu cấy), (ii) Có thể sử dụng môi trường nuôi cấy MS bổ sung IBA 2 mg/L, cho tỷ lệ tạo rễ 100% ở thời điểm 6 tuần sau khi cấy, (iii) Trong giai đoạn vườn ươm, thuần dưỡng cây Trầu bà Hạc Cam nuôi cấy mô có tỷ lệ sống 100% trong điều kiện thuần dưỡng có hoặc không phủ nylon. Cây con thích nghi và phát triển tốt sau 4 tuần thuần dưỡng và có thể trồng trong điều kiện tự nhiên.
Từ khóa: Trầu bà Hạc Cam, Philodendron billietiae , Kinetin, NAA, IBA, nuôi cấy mô.
Nguồn:
Nguyễn, V. Â., Mai, VD, Phạm, Ý. N., & Trần, NQ (2025). Ảnh hưởng của Kinetin, NAA và IBA tăng cường nhân chồi và tạo rễ in vitro của cây Trầu bà Hạc Cam (Philodendron billietiae). Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 14(04S), 243-253. https://doi.org/10.52714/dthu.14.04S.2025.1583.
