
Trịnh Xuân Việt1,2, Trần Ngọc Quý3, Lê Văn Hòa4 và Nguyễn Văn Ây4*
1 Nghiên cứu sinh ngành Khoa học Cây trồng, Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, Việt Nam
2 Trư ờng Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, Việt Nam
3 Viện Công nghệ sinh học và Thực phẩm, Đại học Cần Thơ, Việt Nam
4 Khoa Sinh lý Sinh hoá, Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ, Việt Nam
*Tác giả liên hệ (Corresponding author): nvay@ctu.edu.vn
Tóm tắt
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc xử lý calcium chloride (CaCl₂) trước thu hoạch đến năng suất và chất lượng trái quýt hồng. Thí nghiệm được triển khai tại Phòng thí nghiệm Sinh lý - Sinh hóa, Đại học Cần Thơ và ngoài đồng tại xã Hoà Long, tỉnh Đồng Tháp - vùng chuyên canh quýt hồng trọng điểm, từ tháng 8 năm 2023 đến tháng 2 năm 2024. Kết quả cho thấy việc xử lý CaCl₂ trước thu hoạch góp phần cải thiện đáng kể một số chỉ tiêu về năng suất và chất lượng trái, bao gồm độ Brix, màu sắc vỏ trái và tỷ lệ KĐM. Trong đó, nghiệm thức xử lý CaCl₂ ở nồng độ 1.000 ppm và phun hai lần đạt hiệu quả cao nhất, với tỷ lệ múi khô chỉ 59,22%, thấp hơn rõ rệt so với nghiệm thức đối chứng (79,12%). Đồng thời, độ Brix của trái ở các nghiệm thức xử lý cũng cao hơn so với đối chứng, phản ánh hàm lượng đường tăng - yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng cảm quan và giá trị thương phẩm. Vỏ trái có màu sắc đồng đều và sáng, góp phần tăng tính hấp dẫn trong tiêu thụ.
Từ khóa: Calcium Chloride, chất lượng, năng suất, quýt hồng (Citrus reticulata Blanco), xử lý trước thu hoạch.
Nguồn:
Việt, T. X., Quý, T. N., Hòa, L. V., & Ây, N. V. (2025). Ảnh hưởng của calcium chloride xử lý trước thu hoạch đến năng suất và chất lượng trái quýt hồng (Citrus recticulata Blanco) . Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 61(5), 154-161. https://doi.org/10.22144/ctujos.2025.161.
Phạm Phước Nhẫn, Lê Thị Thu Nga và Nhan Ngọc Ngân*
Khoa Sinh lý –Sinh hóa, Trường Nông nghiệp, Đại học Cần Thơ
*ngngannhan@gmail.com
Tóm lại
Dưa lê là cây rau ăn trái có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng nghiên cứu về bổ sung dinh dưỡng nhằm nâng cao sinh trưởng, năng suất và chất lượng còn hạn chế. Trong nghiên cứu này, CaSiO₃, MgSiO₃ (nhân tố 1) được phun lên dưa lê ở các nồng độ 0, 200 và 300 mg/L (nhân tố 2) tại 35 ngày sau trồng. Thí nghiệm bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp, mỗi lần gồm 10 dây. Kết quả cho thấy phun CaSiO₃ và MgSiO₃ làm tăng chiều dài thân chính, chỉ số SPAD, khối lượng và kích thước trái, khối lượng trái trên dây, khối lượng trái thương sản phẩm, cho năng suất tổng 20,6 và 27 tấn/ha ở tốc độ 200; 300 mg/L, cao hơn bằng chứng (14,4 tấn/ha). Sau khi lập kế hoạch bảo trì ở phòng điều kiện nhiệt độ, sau đó phân tích một số chất dinh dưỡng đặc biệt. Kết quả phân tích cho thấy hàm lượng vitamin C, protein hòa tan, hàm lượng đường khử mùi không khác biệt. Thử nghiệm tổng hợp chất bổ sung silic cải thiện hàm lượng đường tổng, độ Brix và hàm lượng xơ trái để chứng minh. Tỷ lệ hao khối lượng trái cây khi bổ sung CaSiO3 (5,3%) thấp hơn so với MgSiO3 (8,0%) sau 7 ngày bảo quản. Điều này cho thấy CaSiO3 có khả năng hạn chế mất nước và duy trì khối lượng tốt hơn.
Từ khóa : dưa lê, CaSiO3, MgSiO3, sinh trưởng, năng suất.
Nguồn: https://doi.org/10.2023/blunisj..11%20(3/2026)..71
Phạm Phước Nhẫn, Lê Thị Thu Nga và Nhan Ngọc Ngân. 2026. Ảnh hưởng của Canxi Silicate và Magiê Silicate lên sự trưởng thành, năng suất và chất lượng dưa lê (Cucumis melo L.) phục vụ Đông Xuân 2024-2025. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Bạc Liêu. Số 11(3/2026): 1-9.
Lê Bảo Long 1 , Trần Thị Bích Vân 1 *, Trần Minh Toàn 2 , Nguyễn Hoàng Kha 1 và Đinh Thị Hoa 1
1 Trường Nông Nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam.
2 Chi hầm hầm và Bảo vệ thực vật Thành phố Cần Thơ, Việt Nam
*Tác giả liên hệ (Tác giả tương ứng): trantbvan@ctu.edu.vn
Tóm lại
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích đánh giá hiệu quả tiêu chuẩn của chất dưỡng K đến sinh trưởng và năng suất của cây bắp lai ở các loại năng suất khác nhau. thử nghiệm được thực hiện tại Trại Nghiên cứu và Thực nghiệm nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ từ tháng 6 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023. Thử nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên bao gồm 12 thử nghiệm ở mức độ 3 K2O (64, 80 và 96 kg/ha) kết hợp 4 tốc độ thí nghiệm (2, 4, 6 và 8 ngày/lần). Kết quả thí nghiệm cho thấy lượng dư 64 kg K2O/ha ở tần số năng lượng 2 ngày/lần (ẩm độ đất 70,4 - 72,7%) rau ngọt lai F1 Mật ong 10 có sinh trưởng và năng suất cao tương đương với dư 80 và 96 kg K2O/ha. Ở tần suất 4 ngày/lần (ẩm độ đất từ 55,6 đến 59,1%), dư 80 và 96 kg K2O/ha có hiệu quả duy trì sinh trưởng và năng suất cây cối lai. Cây năng lượng 6 và 8 ngày/lần, dư K2O ở lượng 64, 80 và 96 kg/ha có chiều cao cây, chỉ số lục tố, khí cụ, thành phần năng suất và năng suất đều giảm.
Từ khóa : Bắp lai, máy móc, năng lượng, phân kali, sinh trưởng, năng suất.
Nguồn:
Long, LB, Vân, TTB, Toàn, TM, Kha, NH, & Hoa, Đ. T. (2025). Ảnh hưởng của dưỡng chất kali và năng lượng đến sinh trưởng và năng suất cây bắp lai ( Zea mays l.). Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 61(3), 190-200. https://doi.org/10.22144/ctujos.2025.089.
Mai Vũ Duy
Đại học Cần Thơ
TÓM TẮT
Để phát triển cảnh quan cây xanh cân đối, đồng đều, đúng và có chất lượng trên địa bàn đô thị sông nước TP. Cần Thơ. Bài báo nêu những quy định, yêu cầu, quy cách và các lưu ý kèm theo hình ảnh minh họa trong thiết kế cảnh quan, công viên và lựa chọn cây xanh trồng ở đô thị; giúp các chủ thể quan tâm có thể trở thành một bức tranh tổng thể, chi tiết khi phát triển việc trồng cây xanh trên địa bàn trung tâm thành phố. Tuy nhiên, trong phạm vi chế độ của bài viết này, nội dung mang tính thông thường và mẹo để bạn đọc tài liệu tham khảo.
Từ khóa: Cảnh quan; cây xanh; cây xanh đô thị.
Nguồn:
Mai Vũ Duy. 2025. Một số lưu ý trong thiết kế và đơn vị cây xanh tạo cảnh quan tại đô thị sông nước Cần Thơ. Tạp chí Xây dựng. Số 6, 260-262.
Mai Vũ Duy*, Nguyễn Huy**, Nguyễn Huy Long**, Nguyễn Thế Văn***, Lê Bửu Thạch***, Lưu Hồng Trường****, Trần Quang Điền****, Nguyễn Đình Phúc***
*Đại học Cần Thơ; **Công ty TNHH Thương mại dịch vụ xây dựng An Hưng Phát; ***Viện Công nghệ Tiên tiến, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; ****Viện Sinh Thái Miền Nam
Email: ndphuc167@gmail.com
Tóm lại
Hiện nay, việc đánh giá tình trạng cây xanh chủ yếu dựa vào quan sát ngoại quan. Mặc dù nhanh chóng, ít tốn kém nhưng phương pháp này phụ thuộc vào khả năng quan sát và kinh nghiệm của người thực hiện và không thể đưa ra thảo luận về cơ sở dữ liệu bên trong trạng thái gỗ. Trong khi đó, trên thế giới, các công nghệ hiện đại (công nghệ đánh giá rủi ro cây xanh) như sóng âm (Sonic Tomography), Chụp cắt lớp điện năng (ERT), Radar xuyên đất (GPR) và trí tuệ nhân tạo (AI) đã được chứng minh là có kết quả hiệu quả trong việc phát hiện sớm các sự cố và rủi ro ở cây xanh (kiểm tra không phân hủy). Bước đầu ở Việt Nam, ứng dụng công nghệ sóng âm đã cho thấy các kết quả khả thi và có triển vọng ứng dụng rộng rãi. Kết quả thực tế sẽ giúp các đơn vị quản lý cây xanh sớm biết được những rủi ro về cây xanh và có các giải pháp giải quyết phù hợp và phù hợp. Tham luận thảo luận này trình bày thực trạng sức khỏe cây xanh đô thị, phân tích cơ sở khoa học của các phương pháp cổ điển và hiện đại, so sánh với kinh nghiệm quốc tế, thảo luận về tiểu thức và cơ hội cho Việt Nam, đồng thời đề xuất đưa ra định hướng quản lý cây xanh đô thị theo hướng an toàn, bền vững và thích ứng dụng khí cụ.
Từ khóa : Quản lý cây xanh đô thị; sức khỏe cây xanh đô thị; công nghệ đánh giá rủi ro của cây xanh; kiểm tra tra không hủy bỏ; công nghệ sóng âm.
Nguồn:
Mai Vũ Duy, Nguyễn Huy, Nguyễn Huy Long, Nguyễn Thế Văn, Lê Bửu Thạch, Lưu Hồng Trường, Trần Quang Điền, Nguyễn Đình Phúc. 2026. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến trong đánh giá sức khỏe và độ an toàn cây xanh để quản lý cây xanh đô thị tại Việt Nam. Tạp chí Xây dựng. Số 3, 100-103.
Nhan Ngọc Ngân* và Phạm Phước Nhẫn
Trường Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ
Tóm tắt
Silic ngày nay được biết đến như là một nguyên tố dinh dưỡng có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, đặc biệt là trong sự chịu đựng và kháng lại các yếu tố bất lợi sinh học và phi sinh học. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khảo sát hiệu quả của silic lên sinh trưởng, năng suất và bệnh thán thư trên ớt chỉ thiên với 2 nhân tố là hợp chất silic (CaSiO3; MgSiO3) và nồng độ phun (0; 100; 200 mg/L) được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy chiều cao cây, chỉ số diệp lục tố của lá, khối lượng tươi và khối lượng khô đều tăng đáng kể khi được xử lý hợp chất silic so với đối chứng. Trong đó xử lý MgSiO3 cho chỉ số diệp lục tố cao hơn so với CaSiO3. Khối lượng khô của trái khi phun CaSiO3 cao hơn so với phun MgSiO3. Hàm lượng Capsaicin qua 2 lần thu hoạch cao nhất ở nghiệm thức xử lý 200 mg/L là 300,9 μg/KLK. Năng suất khi phun MgSiO3200 mg/L đạt cao nhất 13,3 tấn/ha. Các nghiệm thức có xử lý hợp chất silic có tỷ lệ bệnh thán thư thấp hơn so với đối chứng. CaSiO3 cho hiệu quả kháng bệnh tốt hơn, với tỷ lệ bệnh giảm 29,4% trước thu hoạch và 34,6% sau thu hoạch.
Từ khóa: Ớt chỉ thiên, capsaicin, năng suất, bệnh thán thư, calicum silicate, magiesium silicate.
Nguồn:
Nhan Ngọc Ngân, Phạm Phước Nhẫn. 2025. Ảnh hưởng của Calcium Silicate và Magnesium Silicate lên sự sinh trưởng, năng suất và bệnh thán thư trên ớt chỉ thiên. Tạp chí khoa học Trường Đại học Bạc Liêu. Số 8(6), 20-29.
